Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Điều trị bệnh lao những trường hợp đặc biệt

Phụ nữ có thai hoặc cho con bú mắc bệnh lao

Sử dụng phác đồ điều trị 2RHZE/4RHE để điều trị tấn công kéo dài trong 2 tháng với 4 loại thuốc Rifampicin (R), Isoniazid (H), Pyrazinamid (Z), Ethambutol (E) uống hàng ngày và điều trị duy trì kéo dài trong 4 tháng với 3 loại thuốc Rifampicin (R), Isoniazid (H), Ethambutol (E) uống hàng ngày. Lưu ý không nên dùng Streptomycin (S) vì thuốc có khả năng gây độc cho tai của thai nhi. Cần dùng thêm vitamin B6 với liều 25mg mỗi ngày nếu có sử dụng INH (Isoniazid).

Phụ nữ đang dùng thuốc tránh thai mắc bệnh lao

Thuốc chống lao Rifampicin thường có tương tác với thuốc tránh thai, chúng có thể làm giảm tác dụng của thuốc tránh thai. Vì vậy, khi phụ nữ đang uống thuốc tránh thai, nếu điều trị bệnh lao bằng phác đồ có Rifampicin thì có thể chọn một trong hai giải pháp là dùng thuốc tránh thai có chứa liều lượng Estrogen cao hơn hoặc dùng biện pháp tránh thai khác.

Người bệnh lao có bệnh lý gan

Nếu người bệnh lao có tổn thương gan nặng từ trước phải được điều trị nội trú tại bệnh viện và theo dõi chức năng gan trước và trong quá trình điều trị. Phác đồ điều trị sẽ do bác sĩ chuyên khoa quyết định tùy khả năng dung nạp thuốc của người bệnh. Sau khi người bệnh dung nạp thuốc tốt, men gan không tăng và có đáp ứng tốt về lâm sàng thì có thể chuyển điều trị ngoại trú và theo dõi chặt chẽ.

Điều trị bệnh lao những trường hợp đặc biệtẢnh minh họa

Đối với người bệnh lao có bệnh gan mạn tính, nếu chức năng gan bình thường có thể tiếp tục điều trị và không cần thiết xét nghiệm trừ khi bệnh nhân có triệu chứng của nhiễm độc gan; nếu men gan cao ít hơn 2 lần giới hạn trên của mức bình thường và không kèm theo triệu chứng nhiễm độc gan thì bệnh nhân có thể được bắt đầu điều trị nhưng phải theo dõi đánh giá triệu chứng của nhiễm độc gan và các chỉ số men gan hàng tháng; nếu men gan cao trên 2 lần giới hạn trên của mức bình thường thì ngừng điều trị lao và phải tiếp tục quản lý tại bệnh viện; bệnh nhân có bệnh gan mạn tính không nên dùng Pyrazinamid, Isoniazid và Rifampicin, do đó có thể kết hợp một hoặc hai loại thuốc không độc với gan như Streptomycin và Ethambutol hay kết hợp với một thuốc thuộc nhóm Fluoroquinolones.

Đối với người bệnh lao có viêm gan cấp tính, vừa mắc bệnh lao và đồng thời vừa mắc bệnh viêm gan cấp tính như viêm gan siêu vi cấp tính không liên quan đến lao hoặc điều trị lao. Việc đánh giá lâm sàng rất cần thiết trong việc đưa ra quyết định điều trị. Trong một số trường hợp có thể trì hoãn việc điều trị bệnh lao cho đến khi bệnh viêm gan cấp tính đã được điều trị ổn định. Trong trường hợp cần thiết phải điều trị bệnh lao trong viêm gan cấp tính, viêm gan không ổn định hoặc tiến triển như có men gan cao gấp 3 lần mức ban đầu thì có thể cân nhắc một trong các lựa chọn tùy thuộc vào mức độ tiến triển. Mức độ tiến triển càng nặng thì phác đồ lựa chọn cần sử dụng càng ít thuốc độc đối với gan. Các lựa chọn có thể thực hiện: Giảm còn 2 thuốc thay vì 3 thuốc độc đối với gan như phác đồ 9HRE điều trị kéo dài 9 tháng thuốc Isoniazid (H), Rifampicin (R), Ethambutol uống hàng ngày; phác đồ 2HRSE/6RH điều trị tấn công kéo dài 2 tháng thuốc Isoniazid (H), Rifampicin (R), Streptomycin (S), Ethambutol (E) dùng hàng ngày và điều trị duy trì kéo dài 2 tháng thuốc Rifampicin (R), Isoniazid (H) uống hàng ngày; phác đồ 6-9RZE điều trị kéo dài 6 đến 9 tháng thuốc Rifampicin (R), Pyrazinamid (Z), Ethambutol (E) uống hàng ngày. Chỉ sử dụng 1 thuốc độc đối với gan như phác đồ 2HES/10HE điều trị tấn công kéo dài 2 tháng thuốc Isoniazid (H), Ethambutol (E), Streptomycin (S) dùng hàng ngày và điều trị duy trì kéo dài 10 tháng thuốc Isoniazid (H), Ethambutol (E) uống hàng ngày. Không sử dụng thuốc độc đối với gan như phác đồ 18-24SEFQs điều trị kéo dài 18 đến 24 tháng thuốc Streptomycin (S), Ethambutol (E), Fluoroquinolones (FQs) dùng hàng ngày.

Người bệnh được xác định có tổn thương gan do thuốc chống lao

Phải ngừng ngay việc sử dụng những thuốc lao gây độc cho gan, nên xem xét sử dụng thuốc Fluroquinolones nếu việc điều trị lao cần thiết; điều trị hỗ trợ chức năng gan cho đến khi men gan trở về lại chỉ số bình thường, hết vàng da; cần theo dõi lâm sàng và chỉ số men gan. Nếu không có đáp ứng hoặc có biểu hiện viêm gan do thuốc nặng thêm, phải chuyển bệnh nhân đến cơ sở chuyên khoa để điều trị.

Người bệnh lao có suy thận

Dùng phác đồ 2RHZ/4RH điều trị tấn công kéo dài 2 tháng với thuốc Rifampicin (R), Isoniazid (H), Pyrazynamid (Z) uống hàng ngày và điều trị duy trì kéo 4 tháng với thuốc Rifampicin (R), Isoniazid (H) uống hàng ngày có thể áp dụng điều trị bệnh lao cho người bệnh suy thận. Các loại thuốc đầu tay như Rifampicin, Isoniazid, Pyrazinamid và Ethionamide, Prothionamide hoàn toàn được chuyển hóa qua gan nên có thể được sử dụng một cách an toàn với liều bình thường ở những bệnh nhân có suy thận. Tuy nhiên, có thể thay đổi phác đồ điều trị và liều lượng khi có suy thận nặng. Thuốc Ethionamide và Prothionamide cũng được lựa chọn trong phác đồ điều trị ở bệnh nhân đa kháng thuốc có suy thận, nên hiệu chỉnh liều khi có suy thận nặng.

Điều trị bệnh lao những trường hợp đặc biệtKhuẩn lao Mycobacterium tuberculosis

Đối với bệnh nhân suy thận nặng, chạy thận nhân tạo; trong suy thận nặng hiệu chỉnh liều thuốc chống lao điều trị là cần thiết và được tính theo độ thanh thải của Creatinin. Isoniazid đôi khi gây ra bệnh não ở những bệnh nhân có suy thận và trong những ngày chạy thận, vì vậy cần bổ sung điều trị Pyridoxine ngăn chặn bệnh thần kinh ngoại vi.

Trường hợp bệnh lao nặng nguy cơ cao, đe dọa tính mạng; phải lựa chọn lợi ích và nguy cơ, có thể lựa chọn Streptomycin và Ethambutol điều chỉnh liều là cần thiết trong suy thận, liều điều trị được tính theo độ thanh thải của Creatinin. Trong trường hợp cần thiết phải điều trị lao đa kháng thuốc, việc dùng thuốc chống lao hàng thứ hai cho bệnh nhân suy thận phải hết sức chú ý liều lượng và thời gian giữa các liều.

Người bệnh lao mắc bệnh đái tháo đường

Cũng điều trị cũng giống như đối với tất cả các bệnh nhân khác, tuy nhiên bệnh nhân tiểu đường có nguy cơ bị tổn thương thần kinh ngoại vi, thuốc Isoniazid có nguy cơ cao gây viêm thần kinh ngoại vi, vì vậy nên dùng thêm thuốc Pyridoxin với liều lượng 10 - 25mg mỗingày. Cần kết hợp chặt chẽ với bác sĩ chuyên khoa để kiểm soát đường huyết, các biến chứng của tiểu đường. Đảm bảo tối ưu kiểm soát đường huyết, khi đường huyết ổn định theo dõi lượng đường trong máu hàng tháng, giáo dục bệnh nhân tuân thủ điều trị, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất. Cần xem xét đến trường hợp tương tác thuốc trong việc kết hợp điều trị bệnh lao và điều trị bệnh tiểu đường khi dùng thuốc Rifampicin với nhóm thuốc Sulphonylurea, cân nhắc sử dụng thuốc hạ đường máu bằng Insulin, nhóm thuốc ít gây tương tác với thuốc chống lao Biguanide như Metformin không có tương tác với Rifampicin tuy nhiên Metformin gây tác dụng phụ trên hệ tiêu hóa khi kết hợp với thuốc lao và thận trọng những trường hợp suy gan, thận.

Người bệnh lao nhiễm HIV/AIDS

Các thuốc chống lao có tác dụng tốt đối với bệnh lao ở người bệnh lao nhiễm HIV (human immunodeficiency virus). Vì vậy điều trị lao cho người bệnh HIV/AIDS (nói chung không khác biệt so với người bệnh không nhiễm HIV/AIDS. Khi điều trị cần lưu ý một số điểm gồm: điều trị lao sớm ở người HIV có chẩn đoán lao. Phối hợp điều trị thuốc chống lao với điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội khác bằng Cotrimoxazol và ARV (antiretroviral) càng sớm càng tốt, ngay sau khi người bệnh dung nạp thuốc chống lao sau 2 tuần đầu tiên. Thận trọng khi điều trị phối hợp ARV vì có hiện tượng tương tác thuốc giữa Rifampicin với các thuốc ức chế men sao chép ngược Non-nucleocide và các thuốc ức chế men Protease. Hội chứng phục hồi miễn dịch có thể xảy ra ở một số bệnh nhân nhiễm HIV điều trị lao có sử dụng thuốc kháng virút biểu hiện bằng các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng nặng lên; điều trị triệu chứng trong trường hợp nặng có thể sử dụng Corticosteroid với liều lượng 1mg/kg cân nặng trong khoảng 1 - 2 tuần.

Lời khuyên của thầy thuốcHiện nay lao là một bệnh xã hội đang có xu hướng phát triển và lây lan trong cộng đồng. Bên cạnh người mắc bệnh lao đơn thuần, còn có những trường hợp bệnh nhân lao là phụ nữ ở trong thời kỳ mang thai, đang cho con bú, dùng thuốc tránh thai; bệnh nhân lao mắc thêm một số bệnh lý khác về gan, tổn thương gan do dùng thuốc chống lao, suy thận, tiểu đường, nhiễm HIV/AIDS hoặc lao kháng thuốc...; đây là những trường hợp đặc biệt mà trong quá trình điều trị bác sĩ cần cân nhắc, thận trọng để hạn chế những tác dụng không mong muốn có thể xảy ra với những hậu quả biến chứng do phải dùng thuốc điều trị dài ngày. Việc điều trị phải được theo dõi, giám sát một cách chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả và an toàn cho người bệnh.

Một số lưu ý khi điều trị lao kháng thuốc

Đối với phụ nữ có thai, tránh không nên dùng thuốc tiêm. Phần lớn các thuốc tiêm Aminoglycoside không nên dùng trong các phác đồ cho người bệnh mang thai vì có thể rất độc hại đối với việc phát triển thính lực của thai nhi. Capreomycin có thể gây độc cho tai của thai nhi nhưng lại là thuốc tiêm nên sẽ được lựa chọn nếu phải dùng thuốc tiêm trong trường hợp bệnh nặng; lúc này Capreomycin có thể được sử dụng cách nhật để giảm thiểu tác hại đối với thai nhi. Việc trì hoãn thuốc tiêm trong giai đoạn thai kỳ là cần thiết, tuy nhiên cần sử dụng ngay sau sinh để tăng cường hiệu lực của phác đồ. Tránh dùng Ethionamide và Prothionamid vì chúng có thể tăng nguy cơ gây buồn nôn và nôn mửa có liên quan đến tình trạng mang thai, và một số tác động phụ sẽ dẫn đến dị tật thai nhi. Nếu có thể được, không nên dùng Ethionamide cho người bệnh.

Đối với người bệnh bị động kinh, không nên dùng Cycloserine cho những người bệnh vẫn còn động kinh và chưa được kiểm soát triệt để bằng thuốc. Tuy nhiên, trong trường hợp Cycloserine là một thuốc thiết yếu của phác đồ điều trị thì loại thuốc này vẫn có thể được sử dụng và thuốc chống bệnh động kinh phải được điều chỉnh theo yêu cầu để kiểm soát. Rủi ro và lợi ích của việc dùng Cycloserine phải được trao đổi với người bệnh và cùng với người bệnh đưa ra quyết định liệu có dùng Cycloserine hay không.

Điều chỉnh thuốc chống lao trong trường hợp suy thận với liều khuyến cáo và tần suất cho người bệnh có độ thanh thải Creatinine dưới 30 ml/min hoặc bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo chú ý các thuốc nên sử dụng sau khi lọc máu như: Pyrazinamid (Z) liều lượng 25 - 35mg/kg cân nặng dùng cách nhật; Ethambutol (E) liều lượng 15 - 15mg/kg cân nặng dùng cách nhật; Capreomycin (Cm) liều lượng 12 - 15mg/kg cân nặng dùng cách nhật; Kanamycin (Km) liều lượng 12 - 15mg/kg cân nặng dùng cách nhật; Levofloxacin (Lfx) liều lượng 750 - 1.000 mg dùng cách nhật; Moxifloxacin (Mfx) không cần điều chỉnh liều lượng; Cycloserine (Cs) liều lượng 250 mg mỗi ngày 1 lần, dùng hàng ngày hoặc 500mg mỗi ngày dùng cách nhật; Prothionamide (Pto) không cần chỉnh liều lượng; P-aminosalicylic acid (PAS) liều lượng 4g mỗi ngày, dùng 2 lần trong ngày; Linezolid (Lzd) không cần chỉnh liều lượng; Clofazimine (Cfz) không cần chỉnh liều lượng.

Đối với người bệnh lao màng não, lưu ý khả năng thấm qua hàng rào máu não của các thuốc như: ngấm tốt với thuốc Fluoroquinolones (FQs), Prothionamide (Pto), Cycloserine (Cs), Linezolid (Lzd), Pyrazinamid (Z), Isoniazid (H). Ngấm khi đang có phản ứng viêm với thuốc Kanamycin (Km), Streptomycin (S). Ngấm kém với thuốc P- aminosalicylic acid (PAS), Ethambutol (E). Hiện nay chưa có đủ bằng chứng về tính thấm qua hàng rào máu não với thuốc Capreomycin (Cm), Clofazimine (Cfz), Bedaquiline (Bdq), Delamanid (Dlm). Lưu ý không nên sử dụng Bedaquiline với chống chỉ định tuyệt đối cho trẻ em dưới 18 tuổi, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang cho con bú; có nguy cơ biến chứng tim mạch cao ở bệnh nhân trên điện tâm đồ có khoảng QT lớn hơn 500ms, có tiền sử xoắn đỉnh hoặc loạn nhịp tâm thất hay có bệnh lý mạch vành nặng, có tiền sử dị ứng nghiêm trọng với Bedaquiline. Đồng thời chống chỉ định tương đối ở bệnh nhân trên 65 tuổi, người có bệnh gan hoặc tổn thương gan thể hiện bằng các chỉ số xét nghiệm chức năng gan bất thường như SGOT (serum glutamic oxaloacetic transaminase) hay AST (aspartate aminotransferase) hoặc SGPT (serum glutamic pyruvic transaminase) hay ALT (alanine aminotransferase) trên 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường; người bị suy thận với Creatinine huyết thanh trên 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường trong tình trạng không mất nước, trong trường hợp mất nước Creatinine huyết thanh cần dưới 2 lần giới hạn trên của giá trị bình thường sau khi uống hoặc truyền dịch; ở bệnh nhân có chỉ số xét nghiệm Amylase và Lipase máu ngoài giới hạn bình thường; ở bệnh nhân có tiền sử bệnh lý cơ vân, nhiễm HIV. Lưu ý không nên dùng kết hợp Moxifloxacin và Bedaquiline.

Sử dụng corticosteroide trong một số trường hợp

Căn cứ trên các bằng chứng về hiệu quả và an toàn của thuốc Corticosteroide trong điều trị lao, hiện nay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo dùng Corticosteroide cho điều trị lao màng não. Đối với lao màng tim, chỉ sử dụng trong một số trường hợp tràn dịch nhiều, nhanh tùy theo quyết định lâm sàng. Với đặc tính chống viêm mạnh, thuốc được sử dụng là Dexamethasone ở liều dùng đã thử nghiệm trên lâm sàng cho quần thể bệnh nhân lao màng não tại Việt Nam bằng phác đồ:

Tuần 1 liều lượng 0,4mg/kg cân nặng tiêm tĩnh mạch trong 7 ngày. Tuần 2 liều 0,3mg/kg cân nặng tiêm tĩnh mạch trong 7 ngày. Tuần 3 liều 0,2mg/kg cân nặng tiêm tĩnh mạch trong 7 ngày. Tuần 4 liều 0,1mg/kg cân nặng tiêm tĩnh mạch trong 7 ngày. Từ tuần thứ 5 chuyển thuốc uống với liều bắt đầu 4mg và giảm 1mg sau 7 ngày trong vòng 4 tuần. Các trường hợp khác tùy theo quyết định lâm sàng, tuy nhiên cần cân nhắc kỹ và theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ của Corticosteroide. Lưu ý theo dõi sự thay đổi tâm trạng, lo lắng, trầm cảm có thể do Corticosteroide nhưng khó phân biệt với độc tính thần kinh của Cycloserine khi điều trị trong phác đồ lao kháng thuốc.

BS. NGUYỄN HOÀNG ANH

Đông trùng hạ thảo – liệu pháp an toàn hỗ trợ đẩy lùi ung thư

Ung thư là gì ?

Ung thư là tên gọi chỉ một nhóm bệnh liên quan đến quá trình phân chia tế bào một cách vô tổ chức, có khả năng xâm lấn một cách trực tiếp vào mô lân cận, chúng có thể di chuyển đến những mô xa hơn (di căn). Di căn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân ung thư. Có khoảng 100 loại ung thư đã được phát hiện. Trong đó, phổ biến nhất là ung thư gan, ung thư phổi, ung thư vú.

Ung thư là một căn bệnh gây ra bởi sự rối loạn chức năng tế bào. Sự rối loạn chức năng này giúp tế bào có những tính năng khiến chúng tăng trưởng và xâm nhập vào các mô khác. Tế bào bình thường chịu sự kiểm soát chặt của cơ thể. Nếu có bất cứ sai hỏng nào của mã di truyền ADN, ngay lập tức chúng sẽ được sửa sai bằng nhiều cơ chế tương thích hoặc tế bào tổn thương quá nặng chúng sẽ bị tiêu diệt. Tuy nhiên, thật không may, quá trình kiểm soát này cũng có lúc xảy ra sai sót dẫn tới tế bào bị tổn thương vĩnh viễn, không thể sửa sai hoặc tiêu diệt được. Chúng bất hợp tác với các tế bào xung quanh trong khi vẫn thừa hưởng khả năng nhân đôi mạnh mẽ như vốn có.

Đông trùng hạ thảo đóng vai trò như thế nào đối với quá trình chống lại ung thư ?

Hiện nay, trên thế giới, ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người. Số lượng người mắc ung thư và dẫn tới tử vong không ngừng tăng nhanh. Căn bệnh này mang lại sự đau đớn, tổn thương to lớn về thể chất, tinh thần và kinh tế cho bệnh nhân cũng như toàn xã hội. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị cho bệnh ung thư. Tuy nhiên, đông trùng hạ thảo là một liệu pháp an toàn mà nhiều người lựa chọn sử dụng.

Y học phương Đông và phương Tây đã chứng minh Đông trùng hạ thảo là loại dược liệu “quý hiếm” có tác dụng to lớn trong quá trình hỗ trợ trong điều trị cho nhiều bệnh khác nhau. Với thành phần gồm 17 loại acid amin cùng các nguyên tố vi lượng, các hoạt chất và các loại vitamin khác nhau, loài Đông dược có xuất xứ ở độ cao 3500-5000m này có tác dụng tích cực đến mọi yếu tố trong cơ thể con người và đặc biệt là người bị ung thư.

Các chứng minh khoa học và ứng dụng trong thực tiễn cho thấy: đông trùng hạ thảo có tác dụng trong việc hỗ trợ đẩy lùi các khối u ác tính, cải thiệt rõ rệt tình trạng bệnh của người mắc ung thư. Việc sử dụng Đông trùng hạ thảo trong thời gian dài có thể làm ức chế sự sinh trưởng, quá trình di căn của các khối u một cách hiệu quả. Bên cạnh đó, đông trùng hạ thảo hỗ trợ tăng lượng bạch cầu và tiểu cầu, cải thiện các tác dụng phụ ở bệnh nhân sau hóa trị như: buồn nôn, chán ăn, rụng tóc, mất ngủ... Cùng với đó, việc sử dụng đông trùng hạ thảo dùng lâu dài giúp ngăn chặn sự tái phát của các khối u.

Tác dụng của Đông trùng hạ thảo trong việc hỗ trợ đẩy lùi ung thư

80% số người bị ung thư có triệu chứng suy kiệt trong suốt quá trình điều trị bởi những tác dụng phụ của hóa trị và xạ trị. Đây là hai nguyên nhân hàng đầu dẫn đến thiếu máu và mất vị giác gây ra tình trạng mệt mỏi, không hấp thụ được chất dinh dưỡng, chán ăn... dẫn tới suy sụp cả về thể lực và tinh thần của người ung thư. Mặc dù hóa trị, xạ trị là các phương pháp tối ưu trong chữa bệnh ung thư, nhưng nó cũng mang lại những tác dụng phụ không mong muốn cho người bệnh. Các nghiên cứu cho thấy, tác dụng của Đông trùng hạ thảo trong hỗ trợ đẩy lùi bệnh ung thư được thể hiện cụ thể như sau:

- Bảo vệ tủy xương bởi tác động xấu của hóa chất và tia xạ, kích thích quá trình sản xuất hồng cầu trong cơ, từ đó hỗ trợ chống thiếu máu, tăng cường lưu thông khí huyết giúp cơ thể bệnh nhân giảm mệt mỏi, đau nhức.

- Giúp người bị ung thư ăn ngon miệng thông qua việc cải thiện vị giác của họ. Đồng thời, hỗ trợ thúc đẩy quá trình hấp thu, chuyển hóa chất dinh dưỡng để cơ thể bệnh nhân có đủ sinh lực chống chọi lại bệnh ung thư

- Làm tăng nồng độ các amines trong não bởi quá trình ức chế khả năng ly giải của MAO-B tạo ra sự sảng khoái giúp bệnh nhân ổn định tinh thần, có giấc ngủ ngon, nhanh hồi phục sức khỏe.

- Tăng cường chức năng miễn dịch, nó giúp các tế bào khỏe mạnh ức chế sự phát triển đồng thời thúc đẩy quá trình tự chết theo chu trình của tế bào ung thư.

- Bảo vệ gan, thận trước độc tính của hóa chất các tia xạ và thuốc được sử dụng trong quá trình điều trị, tăng đào thải độc tố ra khỏi cơ thể.

Cordycepin là loại hoạt chất chống ung thư được tìm thấy duy nhất trong Đông trùng hạ thảo. Các nghiên cứu khoa học cho thấy:

- Hoạt chất Cordycepin trong Đông trùng hạ thảo có tác dụng trong việc ức chế tăng trưởng không kiểm soát và phân hóa tế bào (ở liều lượng thấp) và chặn đứng tế bào không cho chúng dính chặt với nhau nên sẽ ức chế tăng trưởng (ở liều lượng cao). Từ đó, kiểm soát tốc độ phát triển các tế bào ung thư.

- Thành phần muối triphosphate trong Cordycepin có tác dụng chống sự hình thành của chất RNA - một chất hiện diện trong chứng bệnh ung thư

- Cordycepin có tác dụng tương tự như thuốc tổng hợp hóa học acryclorvir trong quá trình điều trị bệnh ung thư. Hoạt chất Cordycepin tạo nên cơ chế làm gián đoạn tổng hợp ADN cũng giống như hiệu quả chống ung thư của một số tác nhân hóa trị liệu khác. Cơ chế này giống hệt cơ chế ức chế tổng hợp ADN của acryclorvir.

- Cordycepin trong Đông trùng Hạ thảo hỗ trợ đây lùi ung thư gan.

CORDYCEPS GOLD 750MG – Đông Trùng Hạ Thảo nhập khẩu 100% từ USA

Thành phần cấu tạo: Trong mỗi viên nang chứa chiết xuất đông trùng hạ thảo 750mg

Thành phần khác: Gelatin, Magnesium stearate , silicon dioxide

Thời gian sử dụng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất. Ngày sản xuất và hạn sử dụng in trên nhãn sản phẩm.

Công dụng: Hỗ trợ bổ khí huyết, ích phế thận. Hỗ trợ tăng cường sinh lực, tăng khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng, nâng cao thể trạng sức khỏe.

Đối tượng sử dụng: Dùng cho người 18 tuổi trở lên

Hướng dẫn sử dụng: Dùng 1v mỗi ngày

Bà mẹ mang thai và cho con bú, trẻ con dưới 18 tuổi: tham khảo ý kiến bác sỹ, dược sỹ trước khi dử dụng

Bảo quản: Bảo quản nơi khô ráo thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời. Để xa tầm tay trẻ em

Số GPQC: 00575/2018/ATTP - XNQC

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

ĐỂ NHẬN ĐƯỢC TƯ VẤN KỸ HƠN VỀ SẢN PHẨM QUÝ KHÁCH VUI LÒNG LIÊN HỆ

Công ty cổ phần NISCO Việt Nam

VPGD: Tầng 11 toàn nhà Kim khí Thăng Long, số 1 Lương Yên, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

HOTLINE:0979 621 289 – 0906 082 468

FACEBOOK:https://www.facebook.com/CordycepGold750mg/

WEBSITE: http://dongtrunghathaousa.vn/

Trẻ được thụ tinh bằng phương pháp IVF có nguy cơ cao hơn bị bệnh tim

Phân tích các nghiên cứu đã chỉ ra nguy cơ cao hơn 45% bị các khuyết tật bẩm sinh ở trẻ được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh ống nghiệm (IVF)/tiêm tinh trùng vào bào tương trứng(ICSI) so với trẻ được sinh ra nhờ mang thai ngẫu nhiên. Phân tích này bao gồm 8 nghiên cứu với 25.856 trẻ sinh ra từ kỹ thuật IVF và 287.995 trẻ được sinh tự nhiên và tổng cộng có 2.289 trẻ bị khuyết tật tim bẩm sinh.

Các khuyết tật tim bẩm sinh được phát hiện lần lượt là 1,3% và 0,68% ở nhóm IVF/ICSI và nhóm được sinh tự nhiên. Tác giả chính của nghiên cứu Paolo Cavoretto từ Bệnh viện San Raffaele IRCCS ở Milan, Ý cho biết: “Chúng tôi tin rằng trẻ được thụ thai bằng phương pháp IVF/ICSI có nguy cơ cao bị bệnh tim bẩm sinh do hậu quả của rối loạn chức năng nhau thai sớm, tuy nhiên, giả thuyết này cần được chứng minh trong các nghiên cứu trong tương lai.

BS Thu Vân

(Theo THS)

Những bộ lạc sở hữu khả năng kỳ lạ về sức khỏe

Vài nét về bộ lạc

Theo VWO, bộ lạc (tribe) là một hình thức tổ chức xã hội theo kiểu nhóm xã hội trong lịch sử phát triển của loài người. Bộ lạc nguyên thủy là tập hợp dân cư được tạo thành từ nhiều thị tộc do có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết với nhau, trong đó có một thị tộc gốc tạo thành bộ lạc gọi là bào tộc. Bộ lạc thường có cùng ngôn ngữ, phong tục tập quán, văn hóa, tín ngưỡng và cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ. Mặc dù chưa thực sự ổn định nhưng việc xác lập chủ quyền về mặt lãnh thổ là đặc trưng mới của bộ lạc so với thị tộc. Bộ lạc có hình thức sở hữu cao hơn thị tộc. Ngoài sở hữu riêng của thị tộc, bộ lạc còn có những sở hữu khác bao gồm vùng lãnh thổ, nơi trồng trọt, săn bắt và chăn nuôi...

Lãnh đạo bộ lạc là một hội đồng các tộc trưởng hay tù trưởng. Trong bộ lạc có một thủ lĩnh tối cao nhưng mọi quyền hành quản lý bộ lạc đều do hội nghị của hội đồng các tộc trưởng và thủ lĩnh quân sự quyết định. Hình thức phát triển cao nhất của bộ lạc là liên minh bộ lạc được hình thành từ sự liên kết nhiều bộ lạc với nhau. Ngày nay, hình thức bộ lạc vẫn tồn tại ở những vùng hoang sơ, những người dân bản địa sống trong rừng sâu, một số bộ lạc có nguy cơ biến mất khỏi xã hội loài người nhưu bộ lạc Paraguayan Ayoreo-Totobiegosode, Awa, hay bộ lạc Mascho Piro ở vùng đông nam Peru...

Những bộ lạc sở hữu khả năng kỳ lạ về sức khỏeBộ lạc Clinging, Indonesia

Bộ lạc có những khả năng kỳ lạ về sức khỏe

Bộ lạc thổ dân Australia có khả năng thị lực vượt trội:

Về khả năng thị lực tốt nhất của con người sống trên trái đất hiện nay phải kể đến một vài bộ lạc thổ dân Australia. Thổ dân Australia hay người bản địa Úc được xác định một cách hợp pháp là những thành viên “của các chủng tộc thổ dân của nước Úc” tại lục địa Úc hoặc đảo Tasmania. Họ có thị lực cao gấp 4 lần so với người bình thường chúng ta. Điều này cho phép họ có thể nhìn thấy những thứ nhỏ hơn bốn lần so với mắt một người bình thường có thể nhìn thấy. Khả năng này không phải tất cả những người thổ dân Australia đều có mà chỉ có vài bộ lạc nhất định. Nhờ khả năng trên, thanh niên các bộ lạc này đã được tuyển dụng cho quân đội Úc vì họ có khả năng nhìn thấy đối phương ở khoảng cách rất xa.

Những bộ lạc sở hữu khả năng kỳ lạ về sức khỏeMột trong số những bộ lạc thổ dân Australia có khả năng thị lực vượt trội những người Úc bình thường

Đặc biệt, những thanh niên này đã được tuyển dụng để phát hiện thuyền của người nhập cư và thuyền đánh cá bất hợp pháp thuộc vùng biển của Úc. Tầm nhìn vượt trội của các bộ lạc nói trên, giúp họ săn bắn hái lượm và ngày nay vẫn phát huiy tốt mặc dù công nghệ phát triển rất nhanh. Theo nghiên cứu mới nhất, những người thổ dân Úc ngày nay không phải lúc nào cũng có thị lực tốt so với thế hệ ông cha họ, đặc biệt khi tuổi cao. Do một số yếu tố tác động, như vệ sinh kém và tiểu đường, những người thổ dân trên 40 tuổi thường bị mù gấp hơn 6 lần so với những người dân Úc khác.

Bộ lạc người miễn dịch với bệnh tim:

Đó là bộ lạc người Tsimane ở Bolivia, hay còn gọi là bộ lạc Chimane, sống nhờ nền nông nghiệp tự cung tự cấp, mặc dù săn bắt và đánh bắt cá đóng góp đáng kể cho nguồn cung cấp thực phẩm của bộ lạc. Người Tsimane hiện đang sinh sống trong Khu bảo tồn Native Community Land (Cộng đồng bản xứ) hoặc TCO. Bộ lạc Tsimane được mệnh danh là nhóm người có động mạch khỏe nhất thế giới nên họ không bao giờ mắc bệnh tim mạch.

Kết luận này được dựa vào nhiều nghiên cứu được thực hiện từ năm 2004 đến 2015. Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra hàng trăm người Tsimane và phát hiện thấy 90% có động mạch dẻo dai, to và khỏe, 2/3 người già trên 75 tuổi không có dấu hiệu mắc bệnh tim mạch và 8% có dấu hiệu động mạch hơi khác thường so với công đồng dân số chung. Động mạch to khỏe đồng nghĩa có trái tim khỏe, ít mắc bệnh tim mạch. Ngoài ra, động mạch khỏe còn giúp điều hòa huyết áp, cholesterol và lượng đường trong máu nên người Tsimane không mắc các chứng bệnh nan y khác. Thậm chí, một cụ ông 80 tuổi người Tsimane còn có động mạch khỏe tương đương một người Mỹ khỏe mạnh 50 tuổi.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, đặc tính độc đáo này của người dân Tsimane là do chế độ ăn uống và lối sống mang lại. Họ ăn carbohydrate chưa qua chế biến cùng với ít chất béo và protein, nguồn protein phần lớn từ các loài động vật và cá tự họ săn bắt được. Đặc biệt, đàn ông Tsimane dành từ 6 tới 7 tiếng mỗi ngày để vận động còn tỷ lệ này ở đàn bà là 4 đến 6 tiếng.

Một số người ở bộ lạc Fore miễn dịch với bệnh Kuru và bệnh bò điên:

Kuru là tên của một bệnh não nguy hiểm gây chết người, xuất hiện trong bộ lạc Fore ở Papua New Guinea hồi thế kỷ 20. Đây là căn bệnh phát sinh từ tục ăn não của người chết, một phần trong nghi lễ chôn cất người quá cố của bộ tộc này. Một số bộ não “đặc sản” này bị nhiễm bệnh prion, gây bệnh kuru khiến nhiều người lâm bệnh và tử vong. Phần lớn các ca tử vong xảy ra vào những năm 1950 ở thế kỷ trước, buộc bộ lạc Fore phải từ bỏ hủ tục nguy hiểm này. Vào thời điểm nói trên, có tới 2 phần trăm số người của bộ lạc Fore bị tử vong mỗi năm nhưng hiện nay, một số người trong bộ lạc Fore lại miễn dịch với kuru. Không hề mắc bệnh ngay cả khi ăn não của người chết nhiễm bệnh, thậm chí còn miễn dịch cả với căn bệnh tương tự, bệnh bò điên.

Những bộ lạc sở hữu khả năng kỳ lạ về sức khỏeBộ lạc Mursi ở thung lũng Nam Omo, Ethiopia

Tính năng bảo vệ này được bắt nguồn từ đột biến di truyền V127 độc nhất được tìm thấy trong cơ thể những người sống sót sau bệnh kuru. Hậu duệ của nhóm người không bị nhiễm kuru lại không có đột biến hoặc khả năng miễn dịch đối với bệnh kuru và bò điên. Để kiểm tra, các nhà nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật di truyền để phát triển chuột bị đột biến trước khi tiêm cho chùng các loại bệnh não khác nhau. Kết quả, những con chuột được miễn dịch với bệnh kuru, bệnh bò điên (Creutzfeldt-Jakob), và biến thể bệnh Creutzfeldt-Jakob, tùy thuộc vào việc con vật có 1 hoặc 2 bản sao của đột biến V127. Đối với những người miễn dịch bệnh kuru ở Fore, tất cả đều miễn dịch với kuru và các bệnh não tương tự một khi tiếp tục ăn não của người chết là nhờ đột biến di truyền V127 bảo vệ.

Một số người bản địa ở Ecuador miễn dịch với ung thư và tiểu đường

Gồm khoảng 100 người ở một bộ lạc xa xôi hẻo lánh ở Ecuador do mắc phải Hội chứng Laron (LS), căn bệnh gây đột biến trong thụ thể hormone tăng trưởng dẫn đến bệnh lùn nhưng lại bảo vệ họ khỏi ung thư, tiểu đường, thậm chí cả bệnh tim mạch và Alzheimer.

Tiến sĩ Jaime Guevara-Aguirre và Valter Longo ở Đại học South California, Mỹ, những người đã bỏ trên 30 năm để nghiên cứu hội chứng LS, cho biết, do mắc LS nên họ có chiều cao tối đa 1,2m. Hội chứng Laron lần đầu được xác định vào năm 1950 và chỉ có 350 người trên thế giới mắc phải căn bệnh này, tất cả đều là hậu duệ của một người đã mang gen đột biến hàng ngàn năm trước. Đặc điểm chính của người lùn mắc hội chứng LS ở làng nhỏ này là có một khiếm khuyết trên các thụ thể trong gan được cho là kết nối với hormone và bài tiết ra một chất gọi là yếu tố tăng trưởng giống insulin 1 (IGF-1.) Nhóm người lùn này không hề có liên kết này và cũng chẳng có IGF-1, nên quá trình tăng trưởng đã bị chặn lại .

Để kiểm chứng, Guevara-Aguirre và Valter Longo đã tiến hành thí nghiệm trên chuột trong phòng thí nghiệm. Kết quả sự vắng mặt của IGF-1 có thể đã ngăn chặn sự phát triển của những tế bào không được kiếm soát biến thành ung thư, hay tế bào này tự hủy diệt thay vì biến thành ung thư và tạo ra một lá chắn nhạy cảm với insulin ngăn chặn bệnh đái tháo đường.

BS. BÍCH KIM

(Theo Listverse/Nbcnews- 8/2018)

Ðể tránh bùng phát đợt COPD cấp

Các yếu tố liên quan đến thời tiết nóng lạnh quá mức đều có thể kích hoạt hoặc làm trầm trọng thêm bệnh COPD. Điều kiện môi trường, ô nhiễm không khí ngoài trời và trong nhà, có thể gây ra đợt COPD cấp, gây tắc nghẽn đường hô hấp với nguy cơ nhập viện cao. Quá nóng và quá lạnh đều gây ra rắc rối, vì mỗi loại thời tiết mang đến một cơ chế kích thích hô hấp riêng.

Thời tiết nóng ẩm - mùa xuân, mùa hè

Các triệu chứng COPD có thể bùng phát vào những ngày có nhiệt độ và độ ẩm cao. Nhiệt độ cao có thể gây ra chứng co thắt phế quản, gây khó thở và kiệt sức. Không khí ẩm có ít ôxy hơn, khiến khó thở hơn. Không khí ẩm và nóng thường đi kèm với các chất gây dị ứng phổ biến trong môi trường khí hậu ấm áp, làm khởi phát các đợt cấp ở bệnh nhân COPD. Để ngăn ngừa các đợt cấp COPD trong mùa xuân và mùa hè, cần chú ý:

Uống nhiều nước và chất lỏng dù có khát hay không khát nước và mức độ hoạt động thế nào để bù đắp cho sự mất nước; mặc quần áo mỏng, sáng màu và rộng rãi, sử dụng kem chống nắng thích hợp. Bệnh nhân COPD nên ở trong nhà, trong môi trường máy điều hòa không khí vào những ngày nóng ẩm. Nếu buộc phải ra ngoài, hãy bố trí đi lại vào sáng sớm hoặc sau khi mặt trời lặn; giữ mát cơ thể (bằng máy lạnh, tắm). Tránh các hoạt động liên quan đến việc sử dụng thêm năng lượng; tránh hoạt động quá mức trong những ngày nắng nóng; uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ. Nếu người bệnh có sử dụng bình ôxy, nên hỏi bác sĩ về các lưu ý cụ thể trong những tháng mùa hè nóng bức. Theo dõi dự báo thời tiết hàng ngày sẽ giúp người bệnh chuẩn bị với điều kiện thời tiết hiện tại.

Ðể tránh bùng phát đợt COPD cấpĐể tránh bùng phát đợt COPD cấp\Đợt cấp COPD có thể khiến bệnh nhân phải nhập viện.

Thời tiết lạnh - mùa thu và mùa đông

Các vấn đề dị ứng không chỉ giới hạn trong những tháng ấm áp. Khi thời tiết trở lạnh, bệnh nhân COPD thường dành nhiều thời gian hơn trong nhà. Nhà cửa mùa lạnh thường đóng kín, tạo điều kiện cho các chất gây dị ứng mới hình thành trong nhà. Dị ứng thường gặp là viêm mũi dị ứng do bụi, thảm bẩn, lông vật nuôi, nấm mốc, khói và nước hoa. Cần loại bỏ các dị nguyên này tránh cho người bệnh COPD bị phơi nhiễm. Vào mùa thu đông, không khí và gió lạnh có thể làm trầm trọng thêm các triệu chứng COPD, bao gồm khó thở, ho và tăng tiết chất nhầy đường hô hấp. Các chuyên gia khuyến cáo bệnh nhân COPD cố thở bằng mũi, che bằng khăn quàng hoặc khẩu trang sẽ giúp làm ấm không khí trước khi đi vào phổi. Thời tiết lạnh cũng mang lại nhiều nguy cơ mắc cảm lạnh và cúm, điều này rất nguy hiểm cho bệnh nhân COPD. Nghiên cứu cho thấy nhiễm virut cúm và nhiều virut khác là nguyên nhân quan trọng phát sinh đợt cấp và tỷ lệ tử vong cao hơn ở người bệnh COPD. Trong khi hệ thống hô hấp của bệnh nhân COPD đã có thương tổn và kém chức năng sẵn, cảm lạnh và cúm có thể nhanh chóng xâm nhập gây nhiễm khuẩn hô hấp. Vi khuẩn gây viêm phổi thường có trong phổi của bệnh nhân COPD ngay cả khi đang ổn định. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiễm virut liên quan tới 65% các đợt cấp COPD và có tần suất cao hơn trong mùa cúm.

Để ngăn ngừa các đợt COPD cấp trong mùa thu và mùa đông

Duy trì điều trị COPD: Quản lý tốt COPD, có nghĩa là phải duy trì điều trị thường xuyên đúng theo hướng dẫn, nhất là trong mùa lạnh, điều này có thể giúp tránh và giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của một đợt cấp, ngay cả khi bị cảm lạnh hay cảm cúm.

Tiêm phòng vắc-xin cúm và viêm phổi là một cách để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn.

Tránh xa người bị bệnh: Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân cúm hoặc các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh. Tránh xa các bệnh viện, nơi đông người tụ họp, nhất là trong phòng kín thiếu thông khí.

Rửa tay là biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả cao: Vệ sinh bàn tay một cách cẩn thận trước khi chạm tay vào mắt, mũi hay miệng, đặc biệt là khi đang ở nơi công cộng. Đảm bảo vệ sinh cá nhân, che miệng khi hắt hơi, thường xuyên rửa tay với xà phòng, vệ sinh mũi, họng hàng ngày bằng nước muối; giữ ấm cơ thể, ăn uống đủ chất để nâng cao thể trạng.

Giữ độ ẩm nơi ở trong mức phù hợp: Mùa xuân thường có độ ẩm trong không khí rất cao. Có thể giảm độ ẩm bằng máy hút ẩm hoặc tạo môi trường thông thoáng tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi cá nhân.

Uống nhiều nước: Tốt nhất uống 6-8 ly nước lọc mỗi ngày. Dùng thêm canh nóng vào mùa đông cũng là một cách tốt để thêm nguồn chất lỏng cho cơ thể.

Tránh khói và khói thuốc lá: Tốt nhất là nơi ở của người mắc COPD phải cách ly với nguồn khói, đặc biệt là khói thuốc lá, yếu tố quan trọng gây bùng nổ đợt cấp COPD, phải dứt khoát không có khói thuốc lá trong nhà và phòng ở riêng của người mắc COPD.

Tóm lại, thời tiết và thay đổi theo mùa có thể ảnh hưởng đến hình thành đợt cấp và biến chứng trầm trọng ở bệnh nhân COPD. Nắm rõ những thông tin cần thiết giúp bệnh nhân COPD ngăn chặn các đợt cấp và thúc đẩy tăng cường chất lượng cuộc sống là giải pháp tối ưu hiện nay.

BS. Thanh Hoài

Ăn uống trong khi mang thai

Xin cho biết việc dùng các loại thực phẩm có kiêng cữ gì không?

(Nguyễn Bích Hường - An Giang)

Trả lời: Khi mang thai thì có rất nhiều lời khuyên về chuyện ăn uống có lợi cho mẹ và con. Một số không ít sản phụ phải lo lắng khi nhận được nhiều lời khuyên trái ngược nhau. Người phụ nữ mang thai không biết chính xác thức ăn nào nên ăn và loại nào thì nên tránh.

Ăn uống trong khi mang thai

Theo các chuyên gia thì “Thức ăn nào tốt cho mẹ thì sẽ tốt cho con”. Thật sự thì tất cả trái cây và rau xanh, ngũ cốc và hầu hết chất đạm là chọn lựa tốt cho bà mẹ và cũng tốt cho con. Tuy nhiên cũng có một vài loại thức ăn cần phải tránh khi có thai. Cá là một loại thức ăn cần phải xem xét cẩn thận vì có lợi hay hại là tùy từng loại cá và lượng dùng. Một số loại cá có liên quan đến thủy ngân - một kim loại có thể gây độc cho thai nhi, trẻ em và cả người trưởng thành. Một nghiên cứu lớn đăng trên tạp chí Lancet tháng 2/2007 cho thấy cá là thức ăn quan trọng trong chế độ ăn của phụ nữ mang thai. Sau khi phân tích gần 12.000 trẻ em cho thấy những bà mẹ ăn nhiều cá trong khi mang thai sẽ có con có chỉ số IQ cao hơn những trẻ của bà mẹ kiêng khem món cá và những đứa con của bà mẹ ăn nhiều cá cũng năng động hơn, kỹ năng giao tiếp tốt hơn. Vấn đề nằm ở chỗ là cá chứa axít béo omega-3, chất giúp cho sự phát triển hệ thần kinh bào thai. Dù cá chứa hàm lượng cao axít béo omega-3 nhưng còn có những thức ăn khác cũng giàu chất này như hạt lanh, đậu nành, đậu phụng, trứng và dầu cá. Thức ăn cần tránh trong lúc mang thai đó là những thức ăn dễ nhiễm vi khuẩn listeria, đây là loại vi khuẩn gây tăng nguy cơ sẩy thai, sinh non, thai chết lưu. Theo FDA thì những loại thức ăn dễ nhiễm listeria gồm: các loại sữa không được tiệt khuẩn đúng cách, phô mai mềm, thịt giữ đông, hải sản giữ lạnh, thức ăn nhanh (trừ thức ăn được giữ nóng)… tuyệt đối tránh ăn trứng chưa chế biến chín vì có thể bị nhiễm vi khuẩn salmonella, nhiễm salmonella khi mang thai sẽ gây ói mửa, tiêu chảy làm mất nước..

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Không khí ô nhiễm gây bệnh thận mạn tính

Nhưng một nghiên cứu mới công bố còn cho thấy ô nhiễm không khí cũng gây ra nguy cơ bệnh thận mãn tính do thận bị tổn thương hoặc không lọc máu chính xác.

Tiến sĩ Jennifer Bragg-Gresham, chuyên gia dịch tễ học của Đại học y Michigan, cho rằng tương tự như hút thuốc lá, tình trạng ô nhiễm không khí chứa những chất độc hại ảnh hưởng trực tiếp đến thận. Thận lọc một lượng máu lớn qua nó và nếu bất kỳ yếu tố nào đe dọa hệ tuần hoàn thì thận là cơ quan đầu tiên bị ảnh hưởng. Ở người đái tháo đường, béo phì, cao huyết áp hoặc bệnh tim thì có nguy cơ cao phát triển bệnh thận mãn tính. Những người sống trong vùng bị ô nhiễm nặng cũng bị nguy cơ cao và cần phải được cảnh báo. Không khí ô nhiễm chứa các phân tử nhỏ (gọi là PM2.5), đây là một hỗnhợp các phân tử rất nhỏ. Bởi các phân tử này rất nhỏ và nhẹ nên chúng tồn tại lâu dài trong không khí, làm con người không thể tránh khi hít vào. PM2.5 gây ảnh hường sức khỏe nghiêm trọng khi thường xuyên hít chúng.

Chuyên gia thận của đại học Michigan là Rajiv Saran cho rằng ở vùng ô nhiễm nặng hơn sẽ thấy nhiều bệnh nhân bệnh thận mãn tính. Theo các chuyên gia thì bệnh thận mãn tính ảnh hưởng hơn 27 triệu người Mỹ. Những người bệnh thận mãn tính có nguy cơ cao gấp tám lần tử vong tim mạch. Điều khó khăn là không thể loại trừ PM2.5 ra khỏi không khí. Có rất nhiều hoạt động đơn giản hàng ngày gây ra ô nhiễm không khí như nấu ăn và chạy xe. Những yếu tố khác là hút thuốc, đốt rừng, sản phẩm xịt, thiết bị gia dụng. Không khí ô nhiễm chứa nhiều kim loại nặng, thủy ngân và cadmium, tất cả chất này đều tác động xấu đến thận. Điều mà các nhà khoa học Mỹ khuyến cáo là mức PM2.5 đo được ở Mỹ thấp hợn nhiều so với các nước công nghiêp hóa như Trung Quốc và Ấn Độ. Những nước có mức PM2.5 cao hơn thì có tỉ lệ bị bệnh thận mãn tính cao hơn đáng kể. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là đưa ra khuyến cáo khi tiếp xúc với không khi ô nhiễm đặc biệt là những người vốn có các vấn đề về sức khỏe để có thể phòng tránh các bệnh thận.

MINH THƯ

((Theo PLOS ONE, 8/2018))

7 cách thoát khỏi chóng mặt nhờ giảm stress

Để chữa chứng chóng mặt, ngoài những lời khuyên như: ăn đủ bữa, đủ chất; ngủ đủ giấc; vận động và tập luyện vừa đủ theo thể trạng cơ thể; dù...